Độ bền xé của cao su: cách so sánh hai phiếu thử

Khi so sánh độ bền xé của hai tấm cao su, hãy kiểm tra phương pháp, dạng mẫu và tình trạng vết khía trên từng phiếu thử. Chẳng hạn, 32 N/mm và 30 kN/m chênh nhau 2 kN/m. Nếu một bên thử mẫu góc còn bên kia thử mẫu xẻ hai nhánh, mức chênh ấy chưa cho biết tấm nào chống rách tốt hơn ở vị trí cần dùng.

Vết rách bắt đầu ở đâu trên chi tiết?

Giả sử một tấm chắn bụi rách từ mép lỗ bắt vít ra ngoài. Khi gửi yêu cầu mua tấm thay thế, hãy chụp cả vị trí lắp và cận cảnh đầu vết rách. Ghi rõ vết cắt đã thấy ở mép lỗ trước khi lắp hay chỉ xuất hiện sau một thời gian sử dụng. Thông tin này giúp hai bên quyết định cần kiểm tra vật liệu, mép gia công hay vị trí tiếp xúc với chi tiết kim loại.

Phép thử xé đo sức kháng của cao su khi vết rách hình thành hoặc lan dưới tác dụng của tải. ASTM lưu ý kết quả gắn với điều kiện thử và cần được đánh giá theo ứng dụng cụ thể. Một trị số trên phiếu không cho biết tấm chắn sẽ chịu được bao nhiêu lần uốn quanh lỗ vít. Phạm vi và ý nghĩa của ASTM D624-00(2020).

Cạnh và góc của các tấm cao su đen xếp chồng trên pallet.
Khi kiểm tra một tấm cao su, nên quan sát cả cạnh cắt và góc tấm để phát hiện vết khía nhỏ.

Tên mẫu thử thay đổi cách hiểu kết quả

Trên phiếu ISO 34-1:2022, hãy tìm chữ cái phương pháp đi kèm tên mẫu. Phương pháp A dùng dải mẫu xẻ thành hai nhánh, thường gọi là mẫu ống quần. Phương pháp B dùng mẫu góc và cho phép hai trường hợp, có hoặc không có vết khía. Phương pháp C dùng mẫu lưỡi liềm có vết khía. Vì vậy, nếu phiếu chỉ ghi “ISO 34-1, mẫu góc”, vẫn cần hỏi phòng thử đã khía mẫu hay để nguyên góc. Các dạng mẫu trong ISO 34-1:2022.

Vết khía là vết cắt chủ động tạo trước phép thử. Câu hỏi kỹ thuật khi tác dụng lực lên một mẫu đã có điểm bắt đầu rách khác với khi kéo một góc còn nguyên. Ghi cả tên tiêu chuẩn lẫn ký hiệu mẫu lên bảng so sánh. Chữ C trên phiếu ASTM, đứng riêng, không đủ để ghép với phương pháp C trên phiếu ISO.

Một dải cao su đen có vết cắt dọc chia một đầu thành hai nhánh.
Vết cắt tạo hai nhánh để kẹp riêng. Khi kéo tách hai nhánh, có thể theo dõi vết xé lan từ đầu mút của đường cắt.

Cách đọc đơn vị N/mm và kN/m

1 N/mm = 1 kN/m. Khi đổi cả tử số từ newton sang kilonewton và mẫu số từ milimét sang mét, hai hệ số 1.000 triệt tiêu nhau. Dòng ghi 30 N/mm vì thế có cùng trị số với 30 kN/m. Một kết quả chỉ ghi 30 N là lực đo, còn thiếu thông tin để đối chiếu với chỉ tiêu độ bền xé.

Ví dụ số học với mẫu loại C theo ASTM D624, nếu lực cực đại là 60 N và mẫu dày 2,0 mm thì kết quả là 60 ÷ 2,0 = 30 N/mm. Đây là số liệu giả định để đọc phiếu. Với loại mẫu khác, cần kiểm tra cách chọn lực dùng trong phép tính trước khi lấy số lớn nhất trên đồ thị. Hướng dẫn tính theo loại mẫu của ZwickRoell.

Có thể xem cách ký hiệu N/mm xuất hiện trong bảng thông số của tấm cao su chịu dầu dày 1 mm. Khi mua một mã cụ thể, hãy yêu cầu số liệu của chính mã đó. Chiều dày danh nghĩa của hàng hóa và chiều dày mẫu dùng để tính kết quả là hai thông tin cần ghi riêng.

Ví dụ đối chiếu hai báo giá trước khi đặt hàng

Giả sử cần đặt cao su tấm để cắt tấm chắn. Hai nhà cung cấp gửi thông tin sau.

Hồ sơDòng độ bền xé
Nhà cung cấp A32 N/mm, ASTM D624, mẫu C. Bảng kỹ thuật ghi giá trị điển hình.
Nhà cung cấp B30 kN/m, ISO 34-1, mẫu góc. Có mã lô, chưa ghi mẫu có vết khía hay không.

Sau khi đổi đơn vị, A cao hơn B đúng 2 kN/m trên giấy. Tuy nhiên, lấy 2 kN/m làm lý do trả thêm tiền cho A là quyết định thiếu căn cứ. Hai bên dùng phương pháp khác nhau, và A đang công bố số điển hình trong khi B báo kết quả của một lô.

Nếu bản vẽ đã quy định ISO 34-1 phương pháp B có khía, hãy yêu cầu B xác nhận tình trạng vết khía trên phiếu thử. Với A, hãy xin kết quả theo đúng phương pháp ghi trên bản vẽ và đối chiếu mã vật liệu. Sau khi cả hai hồ sơ cùng cơ sở, mới xét từng kết quả theo giới hạn nghiệm thu đã thỏa thuận. Nếu bản vẽ chưa có yêu cầu thử, nên thống nhất phương pháp với cả hai bên trước khi lấy mẫu.

Checklist gửi nhà cung cấp khi phiếu còn thiếu dữ liệu

  • Truy xuất mẫu. Xin mã hợp chất, mã lô, ngày thử và nguồn lấy mẫu. Ghi rõ mẫu cắt từ tấm giao hàng hay từ tấm thử được chuẩn bị riêng.
  • Nhận dạng phép thử. Xin số hiệu, phiên bản tiêu chuẩn, loại mẫu, tình trạng vết khía và chiều dày mẫu đã đo.
  • Đối chiếu điều kiện. Xin nhiệt độ, tốc độ kéo và hướng cắt so với chiều cán khi lấy mẫu từ tấm. Hình dạng, tốc độ, nhiệt độ và tính định hướng của cao su đều có thể ảnh hưởng đến kết quả theo ISO 34-1.
  • Đọc kết quả theo lô. Yêu cầu đơn vị, số mẫu đã thử và cách phòng thử tổng hợp các kết quả. Xác nhận con số trên báo giá là giá trị điển hình, kết quả lô hay giới hạn tối thiểu đã cam kết.

Với chi tiết có lỗ hoặc mép hẹp, gửi kèm bản vẽ thể hiện khoảng cách từ lỗ đến cạnh. Nếu chỉ có mẫu cũ, có thể áp dụng cách ghi kích thước gioăng và vị trí lỗ để hai bên cùng trao đổi đúng vùng hư hỏng.

Câu hỏi thường gặp

Có thể đổi kết quả bền kéo tính bằng MPa sang độ bền xé không?

Không có phép đổi đơn vị như vậy. MPa tương đương N/mm², biểu thị lực trên diện tích. Kết quả xé ở đây tính bằng lực trên chiều dày mẫu. Khi hồ sơ chỉ có kết quả kéo, hãy yêu cầu dòng thử xé riêng. Có thể đối chiếu tên các chỉ tiêu trong hướng dẫn đọc độ bền kéo và độ giãn dài.

Hai phiếu cùng ghi ASTM D624 đã đủ để nhận hàng chưa?

Cần biết hai phiếu dùng loại mẫu nào và phiếu nào gắn với lô đang giao. Nếu đơn hàng quy định giới hạn tối thiểu, hãy đối chiếu kết quả với đúng giới hạn và quy tắc chấp nhận trong đơn hàng. Một bảng kỹ thuật ghi giá trị điển hình có ích khi chọn mã vật liệu ban đầu, nhưng chưa xác nhận kết quả của lô hàng cụ thể.

Đánh giá nội dung
Quản lý Nguyễn Trọng Đạt trong một lần tìm hiểu thị trường tại Trung Quốc

Tôi là Nguyễn Trọng Đạt – Quản lý sản xuất và kỹ thuật của Công ty TNHH cao su kỹ thuật Khánh Đạt. Với chuyên môn hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất cao su và cung cấp các sản phẩm làm từ cao su. Một số khách hàng chúng tôi đã cung cấp: Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam, EVN, PTSC cùng nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước.