Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 5 ước đạt 2,278 tỷ USD

Theo báo cáo cảu Bộ NNPTNT, kim ngạch nông lâm thuỷ sản tháng 5 ước đạt 2,278 tỷ USD, đưa của ngành 5 tháng đầu năm 2014 lên 12,12 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, giá trị các mặt hàng nông sản chính ước đạt 5,94 tỷ USD, tăng 5,1%; Giá trị thuỷ sản ước đạt 2,83 tỷ USD, tăng 25%; Giá trị các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 2,46 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013.

Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau:

  • Gạo: Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 5 năm 2014 ước đạt 591 nghìn tấn với giá trị 259 triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2014 ước đạt 2,65 triệu tấn và giá trị ước đạt 1,19 tỷ USD, giảm 10,2% về khối lượng, và giảm 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. xuất khẩu bình quân tháng 4 năm 2014 đạt 456,19 USD/tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2013. Thị trường lớn nhất là Trung Quốc với 41,75% thị phần. Đáng chú ý nhất là thị trường Philippin có sự tăng trưởng đột biến trong 4 tháng đầu năm với mức tăng gấp 5,26 lần về khối lượng và tăng 5,79 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Với mức tăng trưởng này, Philippin vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 18,66% thị phần, tiếp đến là Gana, Singapore, chiếm thị phần lần lượt là 5,35% và 4%.
  • Cà phê: Tháng 5 năm 2014 xuất khẩu cà phê ước đạt 154 nghìn tấn với giá trị đạt 336 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 5 tháng đầu năm ước đạt 966 nghìn tấn và 1,96 tỷ USD, tăng 36,7% về khối lượng và tăng 29% về giá trị so cùng kỳ năm 2013. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm đạt 2.001 USD/tấn, giảm 6,88% so với năm 2013. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2014 với thị phần lần lượt là 14,08% và 9,62%. Thị trường Bỉ và Pháp có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp hơn 2 lần về lượng so với 4 tháng đầu năm 2013.
  • Cao su: Ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 5 đạt 51 nghìn tấn với giá trị 96 triệu USD, với ước tính này 5 tháng đầu năm 2014 xuất khẩu cao su đạt 239 nghìn tấn với giá trị đạt 473 triệu USD, giảm 20,2% về khối lượng và giảm 39,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá cao su xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2014 đạt 1.997 USD/tấn, giảm 24,89% so với cùng kỳ năm 2013. Mặc dù Trung Quốc và Malaysia vẫn duy trì là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng năm 2014, nhưng lại có xu hướng giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2013, cụ thể: Trung Quốc giảm 37,65% về khối lượng và giảm 53,26% về giá trị; Malaysia giảm 22,61% về khối lượng và giảm 45,86% về giá trị. Thị trường Hà Lan có tốc độ tăng nhanh nhất, gấp hơn 6 lần về lượng và hơn 4 lần về giá trị so với 4 tháng đầu năm 2013.
  • Chè: Khối lượng xuất khẩu chè tháng 5 năm 2014 ước đạt 9 nghìn tấn với giá trị đạt 14 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu chè 5 tháng đầu năm ước đạt 43 nghìn tấn với giá trị đạt 68 triệu USD, giảm 12,1% về khối lượng và giảm 8,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá chè xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2014 đạt 1.553 USD/tấn, tăng 3,32% so với cùng kỳ năm 2013. Khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan –   thị trường lớn nhất của Việt Nam giảm 23,86% về khối lượng nhưng tăng 3,66% về giá trị. Thị trường Coét có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp hơn 3 lần so với 4 tháng đầu năm 2013.
  • : Khối lượng xuất khẩu tháng 5 ước đạt 23 nghìn tấn với giá trị 151 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2014 đạt 98 nghìn tấn với 618 triệu USD, tăng 10,8% về khối lượng và tăng 11,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2014 đạt 6.204 USD/tấn, tăng 0,12% so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 28,69%, 18,53% và 9,47% tổng giá trị xuất khẩu.
  • Tiêu: Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 5 ước đạt 17 nghìn tấn, với giá trị đạt 126 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 5 tháng đầu năm lên 92 nghìn tấn với giá trị 645 triệu USD, tăng 33,6% về khối lượng và tăng 42,3% về giá trị. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2014 đạt 6.879 USD/tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2013. Xuất khẩu tiêu sang thị trường Hoa Kỳ, Singapore và Ân Độ tăng mạnh – 3 thị trường lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2014 chiếm 40,6% thị phần. Thị trường Hoa Kỳ tăng 34,49% về khối lượng và tăng 39,12% về giá trị. Thị trường Singapore tăng gấp 2,8 lần về lượng và hơn 3,4 lần về giá trị (chiếm 18,53% thị phần); Ân Độ tăng gấp hơn 2 lần cả về lượng và giá trị (chiếm 9,47% thị phần). Đáng chú ý là thị trường Pakistan có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp gần 4 lần so với 4 tháng đầu năm 2013.
  • Gỗ và sản phẩm gỗ: Ước giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 5 đạt 384 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm đạt 2,34 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản- 3 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam 4 tháng đầu năm 2014 – chiếm 66,16% tổng giá trị xuất khẩu – có mức tăng trưởng lần lượt là 25,58%, 16,96% và 28,78% so với cùng kỳ năm 2013.
  • Thuỷ sản: Giá trị tháng 5 ước đạt 552 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm đạt 2,83 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ vẫn duy trì được vị trí là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 23,64% tổng giá trị xuất khẩu. sang thị trường này 4 tháng đầu năm đạt 538,65 triệu USD, tăng 67,02% so với cùng kỳ năm 2013. Bốn tháng đầu năm, sang hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn khác đều tăng mạnh như Nhật Bản, và Trung Quốc với mức tăng tương ứng đạt 13,06%, 53,33% và 47,51%.
  • Sắn và các sản phẩm từ sắn: Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 5 ước đạt 223 nghìn tấn, với giá trị đạt 72 triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm đạt 1,62 triệu tấn với giá trị đạt 504 triệu USD, giảm 16,4% về khối lượng và giảm 17% về giá trị so cùng kỳ năm 2013. Giá trị xuất khẩu sắn và các sản phẩm sắn sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm mạnh, ngoại trừ thị trường Malaysia tăng (tăng 26,75% về khối lượng và tăng 17,28% về giá trị) so với cùng kỳ năm 2013. Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 86,56% thị phần.

Nguồn: Trung tâm tin học và thống kê Bộ NNPTNT